Đối với người trưởng thành
Cân nặng kg
Chiều cao
met
Kq BMI
Đánh giá
Bảng phân loại
Vi chất dinh dưỡng
Các bệnh thiếu vi chất dinh dưỡng ở Việt Nam
Cập nhật ngày: 16/08/2010 14:00:49 | Lượt xem: 12172

    Cơ thể người và động vật luôn cần một lượng nhỏ các vitamin và chất khoáng để phát triển bình thường. Đại bộ phận các chất này cơ thể không tự tổng hợp được mà do thức ăn cung cấp. Đó là các vi chất dinh dưỡng. Thiếu vi chất dinh dưỡng gây ra những ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ, tới phát triển thể chất, trí tuệ nhưng người ta không tự cảm nhận được sự thiếu hụt này. Do đó, nạn thiếu vi chất dinh dưỡng (micronutrient malnutrition) còn có tên gọi là “nạn đói tiềm ẩn” (hidden hunger). Khi xem các tác phẩm nghệ thuật, điêu khắc và văn học ta thấy hậu quả cuả thiếu vi chất dinh dưỡng đã có dấu ấn từ hàng ngàn năm nay. Tuy nhiên, trong một thời gian dài người ta chưa biết rõ nguyên nhân và ảnh hưởng của tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng trên quần thể. Gần 3 thập kỷ qua, các nhà khoa học trên thế giới đã khám phá đầy đủ hơn diện mạo đích thực của các bệnh thiếu vi chất dinh dưỡng: các biểu hiện lâm sàng chỉ là số nhỏ, ảnh hưởng của thiếu vi chất lớn hơn rất nhiều. Các bệnh thiếu vi chất dinh dưỡng trên thế giới gồm có: thiếu vitamin A, D, B1, C, K, B12, Riboflavin, axit folic, và các chất khoáng như sắt, kẽm, mangan, selen...  

    Ở Việt nam, bệnh cảnh lâm sàng thiếu vi chất dinh dưỡng đã được ghi nhận từ khá lâu như bệnh bướu cổ, tê phù, còi xương. Thời thuộc Pháp, những vụ dịch tê phù do thiếu vitamin B1 đã được các y văn mô tả. Cho đến nay, chúng ta đang tiếp tục giải quyết tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng, mặc dù việc giải quyết một số bệnh như thiếu vitamin A, thiếu iốt đã có những tiến bộ quan trọng. Các bệnh thiếu vi chất dinh dưỡng quan trọng ở nước Việt nam hiện nay gồm:

1.  Thiếu vitamin A và bệnh khô mắt 

    Bệnh khô mắt đã được danh y Việt nam Hải Thượng Lãn Ông mô tả với cái tên “cam mắt” ở những trẻ ăn nhiều chất bột, bụng chướng, mắt kéo màng rồi mù. Thời thuộc pháp, nhiều y văn mô tả bệnh mù này gặp nhiều ở trẻ em dưới 10 tuổi, ở những gia đình thiếu thốn. Cho đến những năm 80, tình trạng trẻ em suy dinh dưỡng bị khô mắt dẫn tới mù loà gặp khá nhiều trong các khoa Nhi bệnh viện trong toàn quốc. Lần đầu tiên Viện Dinh dưỡng, Viện Mắt, Bệnh Viện Nhi tổ chức một cuộc điều tra trên cộng đồng ở nhiều tỉnh thành phố trong toàn quốc.

1.1. Ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng 

    Căn cứ vào mức độ và hình thái tổn thương ở mắt do thiếu vitamin A, người ta chia bệnh khô mắt (xerophthalmia) ra các giai đoạn sau: Quáng gà (ký hiệu là XN); Khô kết mạc (X1A); Vệt Bitot (X1B); Khô giác mạc (X2); Khô/loét nhuyễn giác mạc dưới 1/3 bề mặt (X3A); Khô/loét nhuyễn giác mạc trên 1/3 bề mặt (X3B); và Sẹo giác mạc do khô mắt (XS). Tổ Chức Y tế Thế giới (1983) đưa ra ngưỡng xác định ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng của vấn đề thiếu vitamin A khi có ít nhất một trong các tiêu chuẩn sau vượt quá ngưỡng: Quáng gà > 1% số trẻ; vệt bitot >0.5%; X2/X3A/X3B >0.01%; XS >0.05%. Về chỉ tiêu sinh hoá: khi vitamin A huyết thanh < 10mcg/dl với trên 10% số trẻ.  

    Ở Việt Nam, theo cuộc điều tra trên cộng đồng (1985), tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị khô mắt có tổn thương giác mạc hoạt tính (X2/X3A/X3B) là 0,07%, tức là 7 lần cao hơn ngưỡng của Tổ chức Y tế Thế giới coi đây là vấn đề có ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng. Ước tính bấy giờ  hàng năm có khoảng 5000-6000 trẻ bị mù loà do khô mắt. Năm 1994, cuộc điều tra toàn quốc do Viện Dinh dưỡng, UNICEF và HKI tiến hành cho thấy tỷ lệ khô mắt đã hạ thấp dưới ngưỡng quy định của TCYTTG. Tuy nhiên, thể thiếu vitamin A tiền lâm sàng ở Việt nam vẫn còn tồn tại. Tổ Chức Y tế Thế giới (1997) đã xếp Việt nam vào danh sách 19 nước trên thế giới có tình trạng thiếu vitamin A cận lâm sàng ở mức độ nặng. Tỷ lệ thiếu vitamin A tiền lâm sàng (vitamin A huyết thanh thấp, < 0.70 mmol/L) vào năm 1998 là 12%. Theo các nghiên cứu trên thế giới, thiếu vitamin A tiền lâm sàng cũng làm tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, tử vong, và giảm tăng trưởng ở trẻ em. Vì vậy, phòng chống thiếu vitamin A vẫn còn là vấn đề cần quan tâm ở Việt nam.

1.2. Nguyên nhân thiếu vitamin A ở Việt nam

-  Do khẩu phần ăn bị thiếu hụt vitamin A: Đây là tình trạng phổ biến ở nhiều vùng. Trẻ em trong giai đoạn ăn bổ sung với một chế độ ăn nghèo thức ăn động vật, rau xanh quả chín (chứa nhiều tiền vitamin A (caroten). Thiếu dầu mỡ trong khẩu phần làm giảm hấp thu vitamin A. Tập quán cho trẻ ăn bổ sung chỉ có bột gạo, đường hoặc muối là một sai lầm về chế độ nuôi dưỡng dẫn tới thiếu vitamin A và các vi chất khác. Nhiều trẻ bị mù dinh dưỡng do không được bú mẹ vì sữa mẹ chứa nhiều vitamin A, thích hợp với trẻ nhỏ.
-  Tình trạng nhiễm trùng đặc biệt là lên sởi, viêm đường hô hấp, tiêu chảy cũng là các nguyên nhân quan trọng dẫn tới tình trạng thiếu hụt vitamin A. Nhiễm giun, nhất là giun đũa cũng là nguyên nhân của thiếu vitamin A. Đây là những tình trạng khá phổ biến ở Việt nam.
-  Suy dinh dưỡng protein năng lượng nặng thường kèm theo thiếu vitamin A vì thiếu protein ảnh hưởng tới chuyển hoá, vận chuyển vitamin A trong cơ thể. Ngoài ra, thiếu các vi chất khác như thiếu kẽm cũng ảnh hưởng tới chuyển hoá vitamin A.

1.3. Các biện pháp phòng chống thiếu  vitamin A ở Việt nam

-  Cải thiện bữa ăn, giáo dục truyền thông dinh dưỡng:  Từ năm 1988, Chương trình phòng chống thiếu vitamin A ở Việt nam đã khuyến nghị mọi bà mẹ cần thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ vì sữa mẹ. Khuyến khích và hướng dẫn chế độ ăn bổ sung hợp lý (thức ăn động vật, dầu mỡ, các loại rau xanh có hàm lượng  caroten đáng chú ý là rau muống, xà lách, rau ngót, rau diếp, rau dền, hành lá, hẹ lá, rau thơm, các loại củ quả như gấc, cà rốt, qủa chín như đu đủ, xoài...). Khuyến khích phát triển hệ sinh thái Vườn-Ao-Chuồng nuôi gia đình để tạo nguồn thực phẩm cho bữa ăn. Các chương trình giáo dục đại chúng như tổ chức “ngày vi chất dinh dưỡng toàn quốc” vào 1-2 tháng 6 hàng năm, từ năm 1996 đến nay cùng với giáo dục dinh dưỡng cho các bà mẹ.
-  Bổ sung viên nang vitamin A  liều cao:  Từ năm 1993, Việt nam áp dụng việc bổ sung vitamin A liều cao cho trẻ 6-36 tháng tuổi trong toàn quốc thông qua hệ thống y tế. Hiện nay, giải pháp này đang tiếp tục áp dụng, có thể duy trì cho tới năm 2005. Trẻ được uống viên nang 200.000 đơn vị quốc tế (UI) mỗi năm 2 lần (đối với trẻ dưới 12 tháng cho uống viên nang 100.000 UI). Việc bổ sung vitamin A liều cao cho các bà mẹ ngay sau đẻ cũng được áp dụng.
-  Phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn: Các bệnh nhiễm trùng nhất là sởi, tiêu chảy, viêm đường hô hấp có nguy cơ đối với thiếu vitamin A và khô mắt. Từ năm 1996, việc bổ sung vitamin A phối hợp với chiến dịch tiêm chủng toàn quốc. Trẻ em bị bệnh nhiễm khuẩn được bổ sung dự phòng vitamin A cùng với việc điều trị bệnh.
-  Tăng cường vitamin A  trong một số thực phẩm: Hiện nay ở Việt nam chưa triển khai giải pháp này. Tuy nhiên, từ năm 2000 sẽ tiến hành một nghiên cứu thí điểm về đưa vitamin A vào trong đường và một số thực phẩm khác như bánh kẹo, mỳ ăn liền. Giải pháp này đã thành công ở một số nước.
Như vậy, có thể nói những thành tựu trong phòng chống thiếu vitamin A ở Việt nam chủ yếu dựa vào giải pháp bổ sung vitamin A. Trong thời gian tới, biện pháp cải thiện bữa ăn để có sự đầy đủ vi chất dinh dưỡng và tăng cường vi chất vào thực phẩm cần được quan tâm thích đáng. 

2. Thiếu máu thiếu sắt

2.1. Ý nghĩa  sức  khỏe cộng đồng

    Theo TCYTTG, thiếu máu dinh dưỡng  là tình trạng bệnh lý xảy ra khi hàm lượng Hemoglobin trong máu xuống thấp hơn bình thường do thiếu một hay nhiều chất dinh dưỡng  cần thiết cho quá trình tạo máu, bất kể do nguyên nhân  gì. (Tổ chức Y tế Thế giới phân loại khi hemoglobin thấp dưới 110 g/L ở phụ nữ có thai và trẻ em; thấp dưới 120 g/L ở phụ nữ không có thai). Thiếu máu do thiếu sắt là loại thiếu máu dinh dưỡng  hay gặp nhất, có  thể kết hợp với thiếu axit folic, nhất là trong thời kỳ có thai và phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ.

    Thiếu máu thiếu sắt có thể là một bệnh thiếu vi chất dinh dưỡng có ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng quan trọng hàng đầu hiện nay. Người ta ước tính toàn thế giới có tới hơn 2 tỷ người bị thiếu sắt, trong số này, một tỷ hai trăm triệu người có biểu hiện thiếu máu (TCYTTG, 1991). Thiếu máu hay gặp ở các nước đang phát triển. Tỷ lệ thiếu máu cao nhất ở châu Phi, Nam Á rồi đến Mỹ La tinh, còn các nước vùng khác thấp hơn. Thiếu máu hay gặp nhất ở phụ nữ có thai, phụ nữ tuổi sinh đẻ và trẻ em nhỏ. Thiếu máu chỉ là giai đoạn cuối cùng của một quá trình thiếu sắt tương đối dài với nhiều ảnh hưởng bất lợi với sức khỏe và thể lực và số người bị thiếu sắt chưa bộc lộ thiếu máu cao hơn nhiều so với người bị thiếu máu thực sự.

    Các điều tra dịch tễ học ở Việt nam từ những năm 1989 và gần đây, (1995) cuộc điều tra toàn quốc do Viện Dinh dưỡng, Trung tâm Giám sát Bệnh tật của Hoa kỳ (CDC) và UNICEF  cho thấy tỷ lệ thiếu máu phổ biến ở tất cả các vùng trong cả nước, tỷ lệ thiếu máu cao ở cả phụ nữ không có thai (45%), phụ nữ có thai (53%) và trẻ em, đặc biệt là trẻ em dưới 2 tuổi (60%). Hiện nay, ở những vùng có thực hiện bổ sung viên sắt, tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai hạ thấp dưới 30%, trong khi ở các vùng khác, tỷ lệ thiếu máu khoảng 40% (1999). Tuy nhiên, vùng dân cư có chương trình can thiệp chỉ chiếm chưa tới 1/10 dân cư của toàn quốc.

2.1. Hậu quả sức khỏe của thiếu máu dinh dưỡng

-   Ảnh hưởng tới khả năng lao động:  Thiếu máu do bất kỳ nguyên nhân nào cũng gây tình trạng thiếu ô xy ở các mô, đặc biệt là ở một số cơ quan như tim, não. Thiếu máu ảnh hưởng tới các hoạt động cần tiêu hao năng  lượng. Nhiều nghiên cứu cho thấy năng suất lao động của những người thiếu máu thấp hơn hẳn người bình thường, thậm chí kể cả khi bị thiếu sắt mà chưa bộc lộ thiếu máu.

-   Ảnh hưởng tới năng lực trí tuệ: Các biểu hiện mất ngủ mệt mỏi, kém chú ý, kém tập trung, dễ bị kích thích hay gặp ở những người thiếu máu. Kết quả học tập của các em học sinh bị thiếu máu thấp hơn hẳn so với trẻ không bị thiếu máu và có thể khắc phục được sau khi cho bổ sung viên sắt.

-   Ảnh hưởng tới thai sản:  Thiếu máu tăng nguy cơ đẻ non, tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong của mẹ và con. Những bà mẹ bị thiếu máu có nguy cơ đẻ con nhẹ cân và dễ bị chảy máu ở thời kỳ hậu sản. Vì vậy, người ta coi thiếu máu dinh dưỡng trong thời kỳ thai nghén là một đe dọa sản khoa.

2.2. Nguyên nhân thiếu máu  dinh dưỡng ở Việt nam

-   Chế độ ăn nghèo sắt: Lương thực chính của người Việt nam là gạo. Nguồn thức ăn động vật giàu chất sắt thường không được tiêu thụ thường xuyên và đầy đủ ở các đối tượng có nguy cơ cao bị thiếu sắt là phụ nữ tuổi sinh đẻ, trẻ em nhỏ. Khẩu phần ăn có chứa nhiều chất ức chế hấp thu sắt như các phytat. Giá trị sinh học của sắt khẩu phần của người Việt nam nhìn chung là thấp (5-10%). Với chế độ ăn đó, sẽ không đảm bảo nhu cầu về sắt cho các đối tượng có nhu cầu sắt cao. Ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ, lượng sắt mất theo kinh nguyệt trung bình mỗi ngày là 1,25 mg. ở phụ nữ có thai tuy không mất sắt theo hành kinh nhưng cần sắt để bổ sung cho rau, thai nhi và tăng khối lượng máu của người mẹ với nhu cầu toàn bộ là 1000mg. Nhu cầu đó không phân phối đều trong thời kỳ có thai mà tập trung vào những tháng cuối, lên tới 6,3 mg/ngày. Do đó, không thể thỏa mãn với một chế độ ăn nghèo sắt. Mặt khác, lượng dự trữ sắt cơ thể của phụ nữ trước khi có thai thường thấp cho nên trong thời kỳ có thai, thiếu máu trở lên trầm trọng. Chế độ ăn bổ sung của trẻ em như trên đã nêu cũng rất nghèo sắt.
 
-   Tình trạng nhiễm giun móc và các bệnh nhiễm khuẩn: Nhiễm giun móc khá phổ biến ở Việt nam, tỷ lệ mắc cao ở nhiều vùng. Nhiễm giun móc còn liên quan tới tập quán canh tác nông nghiệp và thói quen vệ sinh, tình trạng môi trường và nước sạch. Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy giun móc đóng góp đáng kể vào nguyên nhân thiếu máu thiếu sắt ở Việt nam. Ngoài ra, các bệnh nhiễm trùng, nhất là nhiễm trùng đường tiêu hoá còn khá phổ biến ở Việt nam cũng góp phần dẫn tới thiếu máu thiếu sắt.

2.3. Các biện pháp phòng chống thiếu máu thiếu sắt ở Việt nam

-   Thực hiện đa dạng hoá bữa  ăn: Đây là một giải pháp rất quan trọng. Trong điều kiện kinh tế hiện nay, cần khuyến khích và hướng dẫn các gia đình thực hiện đa dạng hoá bữa ăn, chế độ ăn cần cung cấp đủ năng lượng và các thực phẩm giàu sắt (thức ăn động vật, đậu đỗ...) Hướng dẫn các cách chế biến truyền thống như nảy mầm, lên men (giá đỗ, dưa chua...) vì các quá trình này làm tăng hàm lượng vitamin C và giảm lượng tanin và axit phytic trong thực phẩm dẫn tới làm tăng khả năng hấp thụ sắt từ thức ăn. Thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung hợp lý là biện pháp tốt nhất phòng chống thiếu máu ở trẻ nhỏ. Quan tâm, dành chăm sóc dinh dưỡng ưu tiên cho bà mẹ có thai. Công tác giáo dục truyền thông đóng một vai trò cực kỳ quan trọng vì cần phải làm cho cộng đồng nhận thấy thiếu máu dinh dưỡng là một vấn đề sức khoẻ quan trọng và biết cách phòng chống chủ động.

-   Bổ sung bằng viên sắt: Hiện nay, chương trình bổ sung sắt cho cho phụ nữ có thai được thực hiện tại 1280 xã trong toàn quốc. Phụ nữ được bổ sung sắt hàng ngày 60 mg sắt nguyên tố và 0,25 mg folat từ khi có thai tới 1 thang sau đẻ. Hiện nay, các thử nghiệm ở Việt nam cho thấy áp dụng phác đồ hàng tuần và hướng bổ sung “dự phòng” cho phụ nữ ở độ tuổi 15-35 cho kết quả đáng hưá hẹn.  Có thể đây là giải pháp bổ sung sắt mở rộng trong những năm gần đây ở Việt nam. Vấn đề quan trọng là hình thành và duy trì một mạng lưới phân phối, giám sát tốt và đẩy mạnh giáo dục truyền thông để chị em phụ nữ tự giác, chủ động dùng viên sắt đều đặn và đủ liều.

-   Phòng chống giun móc, vệ sinh môi trường: Việc định kỳ tẩy giun, đặc biệt là giun móc đã chứng tỏ có tác động tới cải thiện tình trạng sắt. Hiện nay, chương trình tẩy giun mới triển khai ở một số địa bàn thí điểm (tẩy giun định kỳ, loại thuốc thường dùng hiện nay là Albendazole, liều 400 mg; không dùng cho phụ nữ có thai và trẻ dưới 2 tuổi) phối hợp với vệ sinh môi trường, nước sạch, thay đổi tập quán dùng phân tươi trong canh tác nông nghiệp và thực hành vệ sinh cá nhân, vệ sinh ở mỗi hộ gia đình, vệ sinh ăn uống.

-   Tăng cường sắt cho một số thức ăn: Đây là một hướng kỹ thuật khó khăn nhưng đang được thăm dò ở Việt nam. Với sự giúp đỡ của tổ chức ILSI Nhật bản, một thử nghiệm hiệu quả cuả nước mắm có tăng cường sắt đang được tiến hành. Kết quả thăm dò sẽ đúc kết vào cuối năm 2000. Ngoài ra, hướng nghiên cứu tăng cờng sắt vào các thực phẩm khác như bánh kẹo, mỳ ăn liền, gia vị cũng được đề xuất nghiên cứu.

3. Các rối loạn do thiếu iốt

3.1. Ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng 

    Thiếu iốt  là một vấn đề lớn hiện nay của nhân loại, là nạn đói “tiềm ẩn” có ý nghĩa toàn cầu. Chính vì vậy mà nhiều diễn đàn quốc tế, người ta đã đề ra mục tiêu và kêu gọi các quốc gia tích cực hành động để loại trừ “nạn đói giấu mặt” này vào năm 2000.

    Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, trên thế giới hiện có hơn một trăm nước có vấn đề thiếu iốt , khoảng một tỷ rưỡi người sống trong vùng thiếu iốt  và có nguy cơ bị các rối loạn do thiếu iốt , trong đó có hơn 11 triệu người bị chứng đần độn do thiếu iốt.

    Việt nam là một nước nằm trong vùng thiếu iốt . Nhiều năm trước đây, tình trạng bướu cổ thường được ghi nhận ở các vùng miền núi. Thực tế không phải như vậy mà thiếu iốt  tồn tại ở tất cả các địa phương trong cả nước.  Cuộc điều tra quốc gia năm 1992 (do UNICEF và Bệnh viện Nội tiết tiến hành) trên 28 tỉnh cho thấy 84% trường hợp bị thiếu iốt  (dựa vào định lượng iốt  niệu), trong đó tỷ lệ thiếu nặng là 16% (iốt  niệu dưới 2 (g/dl), thiếu vừa là 45% (iốt  niệu từ 2 - 4.9 (g/dl), thiếu nặng là 23% (iốt  niệu từ 5 - 9.9 (g/dl). Năm 1994 và 1995, cuộc điều tra mở rộng toàn quốc cho thấy vùng đồng bằng sông Cửu Long, tỷ lệ mắc bướu cổ là 18%, trong khi đó tỷ lệ bướu cổ ở vùng đồng bằng sông Hồng dao động từ 10-30%. Cuộc điều tra toàn quốc mới đây(1998)  cho thấy, tỷ lệ bướu cổ đã nghĩa, tỷ lệ có hàm lượng iốt niệu thấp giảm từ 84% (1992) xuống còn 43.5%. Các tỉnh miền núi, nơi đã dùng muối iốt  và dầu iốt  tiêm từ năm 1976, nay tỷ lệ bướu cổ có giảm đi và xét nghiệm nước tiểu thấy iốt  ở mức trung bình, trong khi đó ở các tỉnh chưa được phòng bệnh, iốt  nước tiểu ở vào mức rất thấp. Như vậy tình trạng thiếu iốt ở Việt nam mang tính toàn quốc, không kể miền núi, thành thị hay vùng đồng bằng, ven biển. Iốt  là vi chất dinh dưỡng rất cần cho sự phát triển của cơ thể. Iốt  là chất không thể thiếu trong việc tổng hợp ra nội tiết tố (hoóc-môn) giáp trạng, một hoóc-môn đóng một vai trò quan trọng trong cơ thể. Thiếu  Iốt  dẫn đến thiếu hoóc-môn giáp và ảnh hưởng tới nhiều chức năng quan trọng của cơ thể, gây ra nhiều rối loạn khác nhau gọi chung là “các rối loạn do thiếu iốt”: bướu cổ, chậm phát triển trí tuệ, chiều cao, chậm phát triển sinh dục, đần độn, điếc, lác mắt, liệt cứng chi, sẩy thai tự nhiên, đẻ non, thai chết lưu... Hậu qủa nghiêm trọng nhất của thiếu iốt  là ảnh hưởng tới phát triển của bào thai. Người mẹ bị thiếu iốt  sẽ đẻ ra con kém trí tuệ. Trẻ thiếu iốt  có thể bị bệnh thiểu trí, không có khả năng học hành.

3.2. Nguyên nhân thiếu iốt 

    Trong thiên nhiên phần lớn Iốt  được dự trữ trong nước biển. Từ biển, iốt  theo hơi nước bốc lên được đưa vào đất liền. Mưa bổ sung iốt  cho đất nhưng cũng chính mưa lũ gây ra nạn xói mòn làm trôi iốt  ra biển, làm nghèo iốt  trong đất. Thức ăn là nguồn cung cấp iốt  chủ yếu, con người và động vật dùng lương thực và cây cỏ nuôi trồng trên đất thiếu iốt  sẽ dẫn tới tình trạng thiếu iốt . Phụ nữ có thai, cho con bú, trẻ em là đối tượng có nguy có nguy cơ bị thiếu iốt  cao hơn cả.

3.3. Biện pháp phòng chống thiếu iốt ở Việt nam 

    Tăng cường iốt vào muối ăn, toàn dân sử dụng muối iốt là giải pháp chính phòng chống các rối loạn do thiếu iốt. Việc phòng chống, khống chế và tiến tới thanh toán tình trạng thiếu iốt  đặt ra rất cấp bách. Năm 1992, chương trình phòng chống các rối loạn do thiếu iốt  được thành lập. Tháng 12 năm 1994, Chính phủ ra quyết định về việc toàn dân sử dụng muối iốt. Ngoài muối, hiện nay chương trình còn áp dụng đưa iốt  vào bột gia vị và đang nghiên cứu đưa vào các thực phẩm khác.

    Năm 1999, Chính phủ có nghị định về việc sản xuất và cung ứng muối iốt cho người ăn. Chương trình đã đặt mục tiêu sẽ thanh toán thiếu iốt  trong cả nước vào năm 2000.  Đến nay, tỷ lệ phủ muối iốt trong toàn quốc đạt 61%. Chương trình đang tiếp tục duy trì và thực hiện các mục tiêu đến năm 2005.

3.4. Đánh giá sự tiến bộ của chương trình:
 
    Theo khuyến nghị của Ủy ban quốc tế phòng chống các rối loạn do thiếu iốt  (ICCIDD), UNICEF và TCYTTG (WHO), các chỉ số được dùng để đánh giá chương trình bao gồm: Chỉ số chính:  Iốt  niệu trên 10 g/dl; Trên 90% hộ gia đình dùng muối iốt đủ chất lượng (20ppm) và Chỉ số phụ:  Tỷ lệ bướu cổ ở lứa tuổi học sinh (6-14 tuổi)  dưới 5%.

4. Thiếu kẽm

    Gần đây, thiếu kẽm cũng được biết đến như một thiếu vi chất dinh dưỡng quan trọng, mặc dù việc đánh giá tình trạng thiếu kẽm trên cộng đồng còn gặp nhiều khó khăn. Nhiều nghiên cứu đã khảng định, ở những cộng đồng có vấn đề thiếu máu thiếu sắt thường đi kèm với tình trạng thiếu kẽm. Như vậy, thiếu kẽm cũng là một thiếu vi chất dinh dưỡng cần quan tâm ở Việt nam, nơi đang tồn tại các bệnh thiếu sắt, thiếu vitamin A và suy dinh dưỡng-protein năng lượng. Đáng chú ý là một chế độ ăn nghèo sắt thường cũng nghèo kẽm. Nguồn cung cấp kẽm chủ yếu và có giá trị sinh học cao chủ yếu từ thức ăn động vật. Thiếu kẽm đã được chứng minh là làm tăng biến chứng trong thời kỳ thai nghén, cản trở sự phát triển trí lực và thể lực ở trẻ em, làm giảm khả năng đáp ứng miễn dịch, tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng.

    Kẽm đóng một vai trò quan trọng đối với sức khoẻ: Tham gia vào hoạt động của các enzym, tham gia vào biểu hiện kiểu gen, phân chia tế bào và phát triển cơ thể, tham gia vào chức năng miễn dịch, tham gia vào điều hoà vi giác, cảm giác ngon miệng. Người ta cũng nhận thấy rằng kẽm còn tham gia vào quá trình nhìn vì tham gia vào hoạt động cuả tế bào thị giác võng mạc.

    Các giải pháp phòng chống thiếu kẽm tương tự như các giải pháp phòng chống thiếu Sắt. Tuy nhiên, xu hướng bổ sung đa vi chất (multi-micronutrients) cho các đối tượng nguy cơ cao đang có xu hướng được xem xét đến, thay vì bổ sung các vi chất đơn lẻ như trước đây. Tới nay, ở Việt nam đã tiến hành số nghiên cứu về lĩnh vực này. Hướng tăng cường vi chất dinh dưỡng trong đó có kẽm vào thực phẩm có thể là một hướng triển khai đối với Việt nam, trong khi trên thế giới đã áp dụng rộng rãi giải pháp này.  

5. Thiếu vitamin D và bệnh còi xương   

    Bệnh còi xương được ghi nhận từ khá lâu ở Việt nam. Các công trình nghiên cứu của ngành Nhi từ thập kỷ 70 cho thấy, tỷ lệ còi xương ở trẻ em dao động từ 10-40% tuỳ theo vùng, mặc dù Việt nam là nước nhiệt đới chan hoà ánh sáng mặt trời. Gần đây, một nghiên cứu điều tra tại một số xã thuộc tỉnh Thái nguyên, Hà Giang, Lạng sơn và Lai châu (Nguyễn Văn Sơn, 2000) cho thấy tỷ lệ trẻ em dưới 3 tuỗi bị mắc còi xương là 14,4%, nhóm tuổi 7-18 tháng có tỷ lệ mắc còi xương cao nhất (39%).

Nguyên nhân còi xương:
-   Sự tồn tại các phong tục kiêng nắng, trẻ em thiếu ánh nắng mặt trời cần thiết.
-   Tập quán làm nhà thấp, thiếu ánh sáng
-   Chế độ ăn bổ sung kém chất lượng, lượng dầu mỡ trong khẩu phần thấp.
-   Thiếu hụt dinh dưỡng của mẹ trong thời gian mang thai, trẻ không được bú  mẹ.

    Điều tra trên cũng cho thấy 28% trẻ còi xương có kết hợp với suy dinh dưỡng. Như vậy, phòng chống thiếu vitamin D cũng cần được quan tâm cùng với phòng chống thiếu dinh dưỡng protein-năng lượng. Bên cạnh quan tâm tới vấn để sữa mẹ, ăn bổ sung hợp lý, việc bổ sung dự phòng bằng vitamin D cũng cần được xem xét áp dụng, trước hết là ở các vùng có tỷ lệ mắc cao.  

Tóm lại: Bên cạnh tình trạng đói ăn, ở Việt nam đã đặc biệt quan tâm tới tình trạng bệnh do thiếu các vi chất dinh dưỡng. Các giải pháp như bổ sung vitamin A liều cao cho trẻ em, bổ sung sắt/axit folic cho phụ nữ có thai và phụ nữ tuổi sinh đẻ, tăng cường iốt vào muối ăn. Các biện pháp trên đã đạt được kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, chúng tôi coi đó chỉ là những biện pháp cấp cứu và tạm thời. Về lâu dài và cơ bản phải giải quyết tình trạng thiếu vi chất bằng bữa ăn đa dạng dựa vào sự phát triển hệ sinh thái vườn-ao-chuồng (VAC). Chiến lược “dựa vào thực phẩm” này sẽ đảm bảo cung cấp nguồn rau, củ quả, đậu, lạc vừng và thịt, cá, trứng sữa cho một bữa ăn đa dạng, đủ khoáng, đủ chất béo để hoà tan và hấp thu các vi chất dinh dưỡng cũng như đủ chất đạm để sử dụng các vi chất dinh dưỡng trong cơ thể. Thập kỷ tới còn tiếp tục là thập kỷ phòng chống các bệnh thiếu vi chất dinh dưỡng ở Việt nam.    

Tìm kiếm
Link liên kết




Phần mềm đọc PDF
Viện Dinh Dưỡng Quốc Gia
©2013 Viendinhduong.vn
Địa chỉ: 48B - Tăng Bạt Hổ - Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội| Email: ninvietnam@viendinhduong.vn
Điện thoại: (84-4) 3971 7090 | Fax: (84-4) 3971 7885 |Số đăng ký: 178/GP-TTĐT. Cấp ngày 10/10/2011